Thực trạng và nguồn lợi từ xuất khẩu lao động

Năm 1976, Indonesia là một trong những nước nghèo trên thế giới với thu nhập bình quân đầu người là khoảng 50USD/1 năm. Sau 25 năm thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đầu người của Indonesia đạt khoảng 670USD/1 năm. Mặc dù vẫn còn bị xếp vào danh sách nước nghèo trên thế giới, nhưng vị trí của Indonesia đã được nâng lên ngay sau các nước có thu nhập trung bình theo phân loại của Ngân hàng Thế giới.

Vai trò định hướng còn thiếu nổi bật

Nhà nước thường đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động xuất khẩu lao động. Tuy nhiên, ở Indonesia, vai trò của Nhà nước còn khá mờ nhạt khi các chính sách liên quan chưa được quan tâm một cách thỏa đáng.

Những vấn đề nảy sinh

Bên cạnh những mặt tích cực mà xuất khẩu lao động mang lại thì Indonesia cũng phải đối mặt với các vấn đề tiêu cực mà các quốc gia xuất khẩu lao động gặp phải.

Nước - thành phần quan trọng đầu tiên cần được bảo vệ

Trung Quốc chiếm 22% dân số thế giới, trong khi chỉ có khoảng 7% nước sạch. Tình trạng thiếu nước sạch ngày càng trở nên nghiêm trọng khi nguồn nước tự nhiên đã và đang bị ô nhiễm do tác động của các hoạt động phát triển công nghiệp và đô thị tại Trung Quốc. Trước tình hình đó, Chính phủ Trung Quốc đã ưu tiên xây dựng Luật Ngăn ngừa và Kiểm soát ô nhiễm nước năm 1984, trước cả khi có Luật Bảo vệ môi trường (năm 1989).

Vai trò người cầm lái

Trong hoạt động xuất khẩu lao động (XKLĐ), Nhà nước đóng vai trò như người cầm lái con thuyền, còn các tổ chức, doanh nghiệp dịch vụ XKLĐ có chức năng là người bơi chèo. Với vai trò là người cầm lái, nhà nước phải có một tầm nhìn bao quát, nhìn nhận các vấn đề trong tổng thể, cân đối nhu cầu trong nước, nắm bắt được diễn biến và dự báo được khả năng của thị trường lao động thế giới cũng như của khu vực trong một khoảng thời gian nhất định, từ đó tìm ra những giải pháp tối ưu để thực hiện mục tiêu. Điều này được thể hiện trước tiên thông qua việc hoạch định chính sách để định hướng cho toàn bộ hoạt động XKLĐ của một quốc gia và có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động XKLĐ.

Quản lý và bảo vệ người lao động ở nước ngoài

Vấn đề khó quản lý và bảo vệ người lao động ở nước ngoài là vấn đề của hầu hết các quốc gia có XKLĐ. Tuy thực trạng của lao động mỗi nước là khác nhau nhưng về cơ bản thì lao động nhập cư thường không được đối xử công bằng như công nhân bản địa, không được tham gia công đoàn, bị ngược đãi đặc biệt là lao động nữ. Đó là lý do rất cần sự vào cuộc của Nhà nước với những chính sách, pháp luật để bảo vệ người lao động ở nước ngoài.

Tuyển mộ và đào tạo quyết định chất lượng

Kinh nghiệm của một số nước XKLĐ cho thấy: công tác tổ chức tuyển mộ và đào tạo lao động sẽ quyết định đến mức lương, vị trí của người lao động trong công việc và hiệu quả của hoạt động XKLĐ.

Giải quyết những vấn đề phát sinh

Với tư cách là một chủ thể tham gia vào hoạt động XKLĐ, trong những trường hợp cần thiết, nhà nước phải trực tiếp giải quyết các vấn đề phát sinh từ hoạt động XKLĐ mà bản thân các tổ chức, doanh nghiệp và người lao động không thể đảm đương được, cả trước, trong và sau khi người lao động hết hợp đồng làm việc về nước.

Chặt chẽ để phát huy hiệu quả

Gửi người lao động đi làm việc tại nước ngoài là một trong những chủ trương được nhiều nước đang phát triển, thu nhập thấp và trung bình đặc biệt quan tâm. Bởi trong bối cảnh khả năng tạo việc làm trong nước còn hạn chế, tình trạng thất nghiệp cao, thu nhập của người lao động thấp trong khi nguồn nhân lực lại dồi dào, đây là biện pháp thu hút nguồn kiều hối quý giá hữu hiệu. Rất nhiều các quy định pháp luật liên quan đã được quan tâm xây dựng để các chính sách về lĩnh vực trên này được hoàn thiện và phát huy hiệu quả.

Mô hình kiểu mẫu

Theo New York Times, số lao động Philippines đang sống và làm việc ở ngoài nước chiếm tới 1/10 tổng dân số gần 100 triệu người, nghĩa là cứ 10 dân Philippines lại có một người ra nước ngoài làm việc. Đây chính là nguồn đóng góp ngoại tệ hàng đầu cho quốc gia Đông Nam Á này.

Hành lang pháp lý và chiến lược quốc gia

Là nước có truyền thống lâu đời về xuất khẩu lao động kỹ thuật cao lẫn lao động phổ thông, Ấn Độ gửi công dân ra nước ngoài làm việc nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Theo dữ liệu của Liên Hợp Quốc, có khoảng 17 triệu người Ấn Độ làm việc bên ngoài biên giới quốc gia trong năm 2017. Với số lượng hùng hậu như vậy, lượng kiều hối được gửi về Ấn Đồ đang giữ vị trí số 1 thế giới hiện nay.

Việt Nam và các nước

Nỗ lực giảm phụ thuộc

Nỗ lực giảm phụ thuộc

Trong khi cuộc đụng độ ở biên giới giữa Trung Quốc và Ấn Độ chưa hạ nhiệt, căng thẳng thương mại giữa hai quốc gia có dấu hiệu gia tăng sau khi Ấn Độ kêu gọi tẩy chay mọi sản phẩm và đầu tư từ Trung Quốc. Các chuyên gia cho rằng, sự phụ thuộc kinh tế quá lớn của Voi vào Rồng sẽ khiến Ấn Độ không đủ lực để so găng trong cuộc đấu này.

Xem tiếp...