
Công chức nữ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có ở tất cả các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương
Theo báo cáo của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, nhiệm kỳ 2004- 2009, tỷ lệ phụ nữ là đại biểu HĐND đã được tăng lên. So với nhiệm kỳ trước, HĐND cấp tỉnh số nữ đại biểu tăng 0,55%, HĐND cấp huyện tăng 2,02%, HĐND cấp xã tăng 2,92%. Ở UBND cấp tỉnh số thành viên nữ chiếm 8,61%, cấp huyện là 6,4% và cấp xã là 3,99%.
Số cán bộ, công chức nữ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có ở tất cả các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương. Chỉ tiêu phấn đấu tăng tỷ lệ nữ lãnh đạo cấp Vụ và cấp phòng lên 15% vào năm 2010 được đánh giá rất khả quan. Hiện tại, con số này ở khối các Bộ, cơ quan ngang Bộ là 436 người, chiếm 23,49%. Khối Tổng cục thuộc Bộ và tương đương có 141 người chiếm 24,61%. Khối cơ quan Cục thuộc Bộ và tương đương có 249 người, chiếm 22,55%.
Trong Quốc hội, tuy tỷ lệ nữ đại biểu nhiệm kỳ khoá XII thấp hơn nhiệm kỳ trước và chưa đạt chỉ tiêu ( chỉ tiêu là 33%, hiện là 25,76%), nhưng số đại biểu nữ giữ các trọng trách quan trọng trong các cơ quan của Quốc hội đã tăng lên: có 3 Uỷ viên Thường vụ Quốc hội, trong đó có 1 Phó Chủ tịch Quốc hội, 2 Chủ nhiệm Uỷ ban, 3 Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc...
Kết quả điều tra lao động việc làm của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, tỷ lệ nữ cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành trên cả nước chiếm 20,2%. Trong đó, khu vực nông thôn, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo các cấp chiếm 15,99%, khu vực thành thị chiếm 24,7%.
Lao động nữ chiếm 46% trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh
Số chủ cơ sở sản xuất kinh doanh là nữ chiếm 41,12%, tỷ lệ lao động nữ làm kinh tế hộ gia đình chiếm 49,42%.
Những thay đổi về cơ cấu giải quyết việc làm nói chung và cơ cấu lao động nam, nữ của các khu vực khác đã có chiều hướng giảm tỷ trọng lao động nông - lâm - ngư - nghiệp, tăng mạnh lao động công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ đối với cả lao động nam và nữ.
Theo kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình cho thấy: tỷ lệ tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo cả nước đạt 39,5%. Trong đó, tín dụng ưu đãi của hộ nghèo do nữ làm chủ hộ đạt 33,9% và tín dụng ưu đãi hộ nghèo do nam làm chủ hộ đạt 41,8%. Năm 2007, tỷ lệ lao động qua đào tạo chung của cả nước đạt xấp xỉ 35%. Năm 2005, lao động nữ có chứng chỉ nghề là 11,03%, năm 2007 tăng lên 14,62%.
Giai đoạn 2006- 2010, các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ học sinh nữ tốt nghiệp tiểu học vào học lớp 6 đạt 100%. Các địa phương khác tỷ lệ này khoảng hơn 70% đến 90%.
Tại cuộc họp, hầu hết các ý kiến đều cho rằng, việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới đã có nhiều chuyển biến tích cực trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, để công tác này ngày càng có hiệu quả thì cần đẩy mạnh thực hiện luật pháp, chính sách về bình đẳng giới; hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thực thi Luật. Đặc biệt, các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới phải được chính thức thể chế hoá sau khi Luật Bình đẳng giới được thông qua và có hiệu lực thi hành. Bên cạnh đó là việc quy định cơ chế tài chính rõ ràng và cụ thể cho các hoạt động bình đẳng giới.