62 huyện nghèo đều là vùng dân tộc miền núi, vùng cao nằm trên địa bàn 20 tỉnh, tập trung chủ yếu ở vùng núi Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên với trên 95% là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trong đó có các dân tộc ít người như SiLa, Pu Péo, La Hủ, Lô Lô, Lự, Khơ mú... Đây cũng là nơi có số hộ nghèo cao nhất cả nước (trên 50%). Theo thống kê của Bộ Tư pháp, số vụ việc trợ giúp pháp lý (có người đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp) của người dân ở những huyện nghèo trên có tỷ lệ rất thấp, chỉ đạt 5,3%; chất lượng trợ giúp pháp lý chưa thể đáp ứng với nhu cầu, đặc biệt là mạng lưới tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cũng như đội ngũ cán bộ trợ giúp pháp lý, công tác viên trợ giúp còn yếu và thiếu.
|
Mục tiêu đến năm 2015, phấn đấu đáp ứng 80% nhu cầu trợ giúp pháp lý, bảo đảm ít nhất 80% người nghèo và đồng bào dân tộc tại các huyện nghèo được trợ giúp pháp lý ngay tại cơ sở, đáp ứng nhu cầu trợ giúp pháp lý và truyền thông pháp luật; điều kiện thụ hưởng dịch vụ và kiến thức pháp luật của nhân dân tại các huyện nghèo bằng 85% điều kiện chung của cả nước. |
Dự thảo đề án xác định mục tiêu cụ thể giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020 là sẽ thực hiện có hiệu quả Luật Trợ giúp pháp lý, phù hợp với đặc điểm vùng miền núi, bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người dân tại các huyện nghèo, từng bước đưa công tác này theo kịp sự phát triển của cả nước được xác định là một trong những mục tiêu tổng quát của đề án. Phó cục trưởng Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp Trần Huy Liệu cho biết, đề án được xây dựng xuất phát từ đặc thù của các huyện nghèo, điều kiện địa lý, giao thông đi lại khó khăn, chia cắt, phân bố dân cư thưa thớt, rải rác, phân tán không tập trung, đồng bào không biết tiếng phổ thông, biên chế cán bộ thấp, thiếu cán bộ có trình độ pháp luật theo yêu cầu chung, nhất là cán bộ nguồn. Dự thảo đề án đưa ra 9 nhóm chính sách và tương ứng với mỗi chính sách là các hoạt động cụ thể như hỗ trợ bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cho đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý; hỗ trợ người thực hiện trợ giúp pháp lý học tiếng của đồng bào, đào tạo luật sư cho nguồn cán bộ dự kiến; hỗ trợ, tăng cường chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; hỗ trợ địa điểm, trụ sở làm việc, phương tiện thiết yếu cho các tổ chức trợ giúp pháp lý; chính sách thu hút cán bộ là người dân tộc thiểu số vào làm tại Trung tâm, chi nhánh; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại các Trung tâm; củng cố, tăng cường và phát triển mạng lưới chi nhánh... Theo dự kiến, để thực hiện 9 nhóm giải pháp trên cần khoảng 24 tỷ đồng.
Một điều dễ nhận thấy là theo dự thảo đề án, người được thụ hưởng từ các nhóm chính sách trên chủ yếu là đội ngũ trợ giúp pháp lý, chuyên viên pháp lý làm việc tại các Trung tâm, chi nhánh, cộng tác viên trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn viên pháp luật, chỉ có một chính sách mà người thụ hưởng trực tiếp là người dân đó là chính sách tăng cường công tác truyền thông, nâng cao nhận thức pháp luật và bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người được trợ giúp pháp lý miễn phí. Đây cũng là một thực tế đáng lưu ý của nhiều đề án, chương trình trợ giúp pháp lý. Hơn nữa, trong 9 nhóm chính sách của đề án có thể thấy sự chồng chéo nhất định với các đề án khác đang được triển khai, chẳng hạn đề án quy hoạch mạng lưới trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và chi nhánh trung tâm giai đoạn 2008 - 2010, định hướng đến 2020 cũng có các nhóm chính sách trên.
Có thể thấy, không chỉ vấn đề trợ giúp pháp lý, mà tất cả vấn đề liên quan đến tư pháp ở 62 huyện nghèo còn nhiều vấn đề phải làm giải quyết. Điều cần thiết nhất hiện nay vẫn là các địa phương phải có những báo cáo cụ thể về kết quả thực hiện các chương trình dự án, đề án liên quan đến lĩnh vực tư pháp đang được triển khai ở địa phương; những vướng mắc, những tồn tại trong quá trình triển khai thực hiện, cũng như những vấn đề còn khó khăn, yếu kém của địa phương. Từ đó, đưa ra những giải pháp phù hợp với mỗi địa phương.