Ngay sau khi Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL) có hiệu lực (1.1.2007), việc quán triệt, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người dân đã được các bộ, ngành, địa phương chú trọng. Hình thức phổ biến, tuyên truyền đã được áp dụng linh hoạt, phù hợp với đặc thù vùng, miền, đối tượng tiếp cận; nội dung phong phú nhưng ngắn gọn, dễ tiếp cận. Đặc biệt, Bộ Tư pháp đã chỉ đạo Cục Trợ giúp Pháp lý tổ chức nhiều khóa tập huấn toàn quốc để bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ trợ giúp viên pháp lý. Ở địa phương, các Trung tâm Trợ giúp pháp lý đã tuyên truyền thông qua việc phát tờ rơi, cung cấp tài liệu pháp luật; đồng thời thực hiện trợ giúp pháp lý lưu động để giúp người dân nắm bắt các quy định của pháp luật, thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp. 3 năm thực hiện Luật TGPL, kết quả cả nước đã thực hiện được 305.959 vụ việc cho 312.520 đối tượng (trung bình mỗi năm thực hiện được 122.384 vụ việc với 125.008 đối tượng). So với trước, trung bình mỗi năm tăng 26.245 vụ việc và 25.170 đối tượng; dự báo sẽ tiếp tục tăng khi tổ chức bộ máy của các Trung tâm và Chi nhánh Trợ giúp pháp lý được kiện toàn. Con số này cho thấy, người dân ngày càng cần sự trợ giúp pháp lý và khả năng đáp ứng nhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân từ phía các Trung tâm ngày càng tốt hơn. Cùng với việc tăng số lượng vụ việc, kịp thời đáp ứng nhu cầu TGPL của nhân dân, các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý đã chú trọng hơn đến công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý để bảo đảm cho người được trợ giúp pháp lý được thụ hưởng dịch vụ với chất lượng tốt nhất.
Do làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến Luật TGPL nên đến nay, nhiều người dân đã tiếp cận và sử dụng hình thức trợ giúp pháp lý mỗi khi có vướng mắc, hoặc cần hỗ trợ về mặt pháp luật, đặc biệt, chất lượng thực thi công vụ, giải quyết công việc của người dân của cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, các vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện vẫn tập trung vào nam giới (chiếm gần 60%), tỷ lệ nữ còn ít. Thời gian tới, phải chú trọng hơn đến vấn đề giới, đặc biệt cần có giải pháp để phụ nữ tham gia nhiều hơn vào hoạt động trợ giúp pháp lý. Bên cạnh đó, người được trợ giúp pháp lý chủ yếu vẫn là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và người có công với cách mạng, trong khi đối tượng người tàn tật, người già cô đơn, trẻ em và các đối tượng khác chưa được chú trọng. Mặt khác, các vụ việc vẫn chủ yếu được thực hiện bằng hình thức tư vấn pháp luật (chiếm hơn 93%), thực hiện chủ yếu tại các đợt trợ giúp pháp lý lưu động và tại các trụ sở của Trung tâm Trợ giúp pháp lý. Thực tế, nhu cầu trợ giúp pháp lý ở cơ sở rất lớn, cần tiếp tục đáp ứng tốt hơn. Hiện, phần lớn các vụ việc trợ giúp pháp lý vẫn do đội ngũ cộng tác viên thực hiện (chiếm đến 64,31% tổng số vụ việc). Một số địa phương, việc củng cố kiện toàn mạng lưới tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, xây dựng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý còn chậm so với tiến độ đề ra hoặc lúng túng trong việc tổ chức thực hiện, thiếu nguồn cán bộ để bổ sung. Việc đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí bảo đảm hoạt động chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ, do kinh phí cấp cho hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý rất thấp, chưa thể bảo đảm đủ cho công tác này do chưa tự cân đối được ngân sách, trong khi đó Quỹ trợ giúp pháp lý Việt Nam còn nhỏ…
Để công tác trợ giúp pháp lý thực sự hiệu quả cần tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông pháp luật về trợ giúp pháp lý đến với nhân dân và cán bộ để nhận thức đầy đủ hơn về sự cần thiết của công tác này. Bên cạnh đó, cần tăng cường vai trò giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động trợ giúp pháp lý; phát huy vai trò của MTTQ trong việc vận động, tập hợp, huy động các nguồn lực xã hội tham gia trợ giúp pháp lý; hỗ trợ, phát triển công tác trợ giúp pháp lý, đặc biệt là cơ chế giám sát, phản biện xã hội để hoạt động trợ giúp pháp lý phát huy hiệu quả. Mặt khác, cần nâng cao trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương trong việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn thi hành phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng, miền, địa phương; nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật có liên quan đến trợ giúp pháp lý để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ; đồng thời phải đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí bảo đảm cho công tác trợ giúp pháp lý được duy trì và phát triển.