
Theo nghiên cứu của Tổng cục thống kê, tính đến hết năm 2007, cả nước đã trang bị được gần 480.000 máy kéo các loại, trong đó có khoảng 32.000 máy kéo lớn (trên 35 mã lực), 126.216 máy kéo cỡ trung (từ 18-34 mã lực), gần 320.000 máy kéo cỡ nhỏ 2 bánh (dưới 12 mã lực); có 70.289 ô tô vận tải nông thôn và trên 800.000 động cơ điện, máy phát điện và động cơ chạy xăng, diezel. Bình quân nhu cầu về máy nông nghiệp và động lực mỗi năm tăng từ 20-25%. Theo đó, mỗi năm sẽ cần khoảng 59.000 máy kéo; 150.000 động cơ; hơn 4.000 máy gặt các loại và khoảng 20.000 xe vận chuyển nông thôn. Dự kiến, đến năm 2015 các vùng kinh tế sẽ đầu tư, trang bị thêm khoảng 1,15 triệu máy kéo, động cơ các loại phục vụ cho khâu canh tác, và hàng triệu máy bơm nước phục vụ khâu tưới tiêu. Cụ thể, đến năm 2015 sẽ có khoảng 830.565 máy kéo (loại 2 bánh, 4 bánh); 1.597.666 động cơ điện, động cơ diesel; 188.683 xe tải nông thôn; 4.359.570 máy bơm nước; 32.450 thiết bị gặt lúa; 936.058 máy tuốt lúa có động cơ)… Có thể nói, đây là điều kiện để phát triển thị trường máy nông cụ, đồng thời cũng là cơ hội cho các nhà sản xuất trong nước chiếm lĩnh thị trường.
Hiện nay, thị trường sản phẩm cơ khí phục vụ nông nghiệp khá đa dạng về chủng loại, trong đó chủ yếu là hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu từ Nhật Bản, Trung Quốc… và hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ, hàng nhái, giả nhãn hiệu của các nhà sản xuất chính thống. Sản phẩm nhập từ Trung Quốc chiếm đến 60%, hàng sản xuất trong nước khoảng 30%, còn lại là máy đã qua sử dụng được nhập từ Nhật Bản, Hàn Quốc. Máy nông nghiệp sản xuất trong nước sản phẩm quy chuẩn vừa thiếu, vừa kém chất lượng. Nếu tính theo công suất trung bình của các loại máy, thì Việt Nam mới đạt 1,16 mã lực/ha canh tác, trong khi Thái Lan 4 mã lực/ha; Hàn Quốc 4,2 mã lực/ha...
Nước ta mới chỉ có một vài hãng có khả năng sản xuất máy móc tiêu dùng trong nước và xuất khẩu nhưng số lượng ít, thị phần thấp, như: Tổng Công ty Máy động lực và Máy Nông nghiệp (VEAM), Công ty Cơ khí Hà Nội và Công ty Sinco, TP Hồ Chí Minh. Theo đại diện phòng thị trường của VEAM, nhu cầu sử dụng máy móc trong sản xuất nông nghiệp ngày càng lớn, tuy nhiên khó khăn về vốn nên nông dân phải chọn những sản phẩm đã qua sử dụng, thậm chí hàng không rõ nguồn gốc. Hiện, 70% nông dân Việt Nam thiếu vốn đầu tư máy móc sản xuất nông nghiệp, nên VEAM cũng đã có nhiều biện pháp hỗ trợ từ vốn vay của ngân hàng, phối hợp, ký thỏa thuận với các ngân hàng của các tỉnh để dùng tín chấp hỗ trợ cho bà con vay vốn mua máy móc, trả dần trong 3 năm .
Tuy nhiên, không phải hộ dân nông thôn nào cũng có cơ hội được tiếp cận với nguồn vốn vay có thể mua được những sản phẩm máy móc nông nghiệp có chất lượng, trong khi nhu cầu sử dụng máy móc cho phát triển sản xuất nông nghiệp ngày càng lớn là nguyên nhân dẫn đến hàng trôi nổi, kém chất lượng, nhái mẫu mã, thương hiệu tràn lan. Nhiều nhà sản xuất trong nước chưa mặn mà với việc sản xuất các sản phẩm máy móc nông nghiệp cũng là điều kiện để thị trường máy nông nghiệp ngoại lấn át nội.
Để các nhà sản xuất máy nông cụ trong nước có thể chiếm lĩnh được thị trường, cần những cơ chế, chính sách hỗ trợ phù hợp, cụ thể cho cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng. Theo Chủ tịch Hiệp hội cơ khí Việt Nam Nguyễn Văn Thụ, do thiếu vốn nên đầu tư vào sản xuất máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng hạn chế. Nếu có một kế hoạch hỗ trợ nông dân mua máy như Quyết định 497 của Thủ tướng Chính phủ thì hoàn toàn có thể đặt ra kế hoạch cho việc đầu tư các nhà máy sản xuất máy nông nghiệp từ chính các nguồn tài chính đã giúp cho nông dân thì khả năng sẽ nâng dần được tỷ lệ sử dụng máy trong nước. Nhưng nguồn tài chính phải được đặt đúng địa chỉ. Có như thế mới kích cầu cho lực lượng cơ khí trong nước phát triển.
Như vậy, để các sản phẩm máy nông cụ sản xuất trong nước có thể chiếm lĩnh được thị trường nội địa, cần phải có sự nỗ lực từ cả phía doanh nghiệp, nhà nước lẫn người tiêu dùng. Trong đó, các doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm đến khâu sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm hạ giá thành để cạnh tranh; đồng thời phải xây dựng, phát triển hệ thống kênh phân phối sản phẩm để không chỉ bán hàng mà còn tư vấn, bảo hành sản phẩm. Nhà nước cần có các biện pháp để hạn chế doanh nghiệp gian lận thương mại, ưu tiên sử dụng sản phẩm trong nước đã sản xuất được; đồng thời, tiếp tục có những chính sách hỗ trợ cơ giới hóa nông nghiệp, nông thôn.