
PV: Thưa Ông, vừa qua, TKV đưa ra thông tin 2015 mới phải nhập khẩu than chứ không phải từ năm 2013 như dự kiến ban đầu. Xin Ông cho biết lý do khi đưa ra những thông tin nêu trên?
TGĐ Trần Xuân Hòa: Trước đây, chúng tôi có báo cáo Chính phủ là từ năm 2013 bắt đầu phải nhập khẩu than. Đề xuất này dựa trên quy hoạch của các ngành sử dụng than đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt như điện, xi măng, vật liệu xây dựng… Nhưng vừa qua, Chính phủ đã điều chỉnh quy hoạch của những ngành này. Thực tế, những dự án lớn về sử dụng than như các nhà máy điện, xi măng… hầu như đều chậm so với quy hoạch. Trên cơ sở cập nhật tình hình và theo chỉ đạo của Chính phủ cũng như Bộ Công thương, Tập đoàn đã cùng các ngành ngồi lại, thống nhất và báo cáo với Chính phủ về việc sau năm 2015 nước ta mới phải nhập khẩu than thay vì năm 2013.
PV: Nhập khẩu than có thể là yêu cầu khách quan để phục vụ nhu cầu phát triển KT – XH của đất nước. Tuy nhiên, với những biện pháp tăng cường tiết kiệm nhiên liệu của các doanh nghiệp, hay chiến lược đầu tư công nghệ của ngành than hiện nay, liệu có thể hy vọng, sau năm 2015, nước ta vẫn chưa phải nhập khẩu than hay không?
TGĐ Trần Xuân Hòa: Cần nhìn nhận thẳng thắn vào thực tế sử dụng nguyên nhiên liệu của đất nước. So với nhiều nước tiên tiến trên thế giới, các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật, sử dụng nguyên liệu của Việt Nam cao hơn nhiều. Ví dụ trong sản xuất xi măng, nhiều nước sử dụng nguyên liệu là than cám 10 – B2; trong khi nước ta sử dụng loại than cám 8 (tốt hơn nhiều so với than cám 10 – B2). Không chỉ dùng than cám loại tốt để sản xuất xi măng, chúng ta còn đưa ra những định mức trên 1 tấn sản phẩm xi măng cao hơn định mức của các nước trong khu vực và thế giới. Mặt khác, do vẫn đang sử dụng những công nghệ máy móc lạc hậu nên khó tránh khỏi sự lãng phí trong sử dụng nguyên liệu… Nếu tiết kiệm được 20 - 25% nguồn năng lượng thì rõ ràng sau năm 2015, chúng ta chưa phải nhập khẩu than. Ví dụ, đến năm 2015, TKV sản xuất được 60 triệu tấn than; cùng lúc đó, nếu chúng ta giảm được tiêu hao năng lượng khoảng 20% thì sẽ tương đương với việc giảm tiêu thụ than được 12 triệu tấn, bằng một trung tâm điện lực 4.000 MW…
PV: Tại những Kỳ họp QH gần đây, nhiều ĐBQH cảnh báo về tỷ lệ thất thoát tài nguyên khá lớn, trong đó riêng trong khai thác than, tỷ lệ thất thoát lên tới hơn 40%. Ông nhìn nhận như thế nào về thực trạng này?
TGĐ Trần Xuân Hòa: Trong công nghệ khai thác than, chỉ có khai thác lộ thiên mới hạn chế thấp nhất được việc tổn thất tài nguyên, tức là chúng ta có thể khai thác hết. Còn đối với khai thác hầm lò, đối với bất kỳ nước nào cũng thế, trong quá trình khai thác đều phải giữ lại một khối lượng nhất định để làm những cái trụ bảo vệ, tránh sụt lún, nhất là khai thác hầm lò ở những khu vực đô thị hoặc có công trình trên mặt đất. Tất nhiên, nếu đầu tư công nghệ khai thác ở trình độ cao thì có thể hạn chế thấp nhất những tổn thất tài nguyên than, chỉ khoảng 3 – 4%. Nhưng, ở nước ta khai thác than vẫn ở trình độ công nghệ thấp. Bên cạnh đó, do vấn đề giá cả mặt hàng này phải duy trì ở mức thấp để phục vụ cho nền kinh tế quốc dân nên chúng ta chưa thể đầu tư công nghệ cao trong khai thác than để có thể giảm được tỷ lệ thất thoát xuống mức phù hợp.
PV: Xin cám ơn ông!