
Sau khủng hoảng, các nước hiện đang đương đầu với vấn đề nợ công gia tăng khi đã phải tung ra những gói kích thích để ngăn chặn đà suy giảm của nền kinh tế. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó. Như nhiều nước khác, nước ta đã áp dụng giải pháp vay thêm tiền người khác để kích thích kinh tế vượt qua khủng hoảng. Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh trong phiên thảo luận tại nghị trường ngày 27.5 cũng đã giải thích rằng, “nợ Chính phủ có tăng lên một chút” là do gói kích cầu, và nhu cầu tăng vốn đầu tư phát triển, khôi phục kinh tế.
Dư nợ Chính phủ năm 2009 theo báo cáo của Chính phủ là 41,9% GDP, năm 2008 là 33,4% GDP. Như vậy có thể lượng hóa “một chút” trên đây bằng con số 8,5%. Đến cuối năm 2010, UB Tài chính và Ngân sách dự kiến dư nợ Chính phủ sẽ chiếm 44,6% GDP. Một báo cáo khác của Chính phủ hồi cuối năm 2008 đánh giá: “Tỷ lệ nợ công đang có xu hướng tăng trong trung hạn do nhu cầu đầu tư cao của khu vực công. Tỷ lệ nợ công có thể lên đến 50% vào năm 2014. Còn cuối năm 2010, UB Tài chính và Ngân sách dự kiến dư nợ Chính phủ sẽ chiếm 44,6% GDP. Không ngạc nhiên về những dự đoán này khi cơn khát vốn đầu tư có vẻ đang ở giai đoạn đỉnh điểm. Nhiều dự án, công trình hết sức cấp bách như đường bộ cao tốc Bắc - Nam, sân bay quốc tế Long Thành, cảng trung chuyển container quốc tế Vân Phong, hệ thống metro ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh… đang rất cần vốn. Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thủ đô theo đồ án quy hoạch chung Hà Nội mở rộng, dự án xây dựng đường sắt cao tốc Bắc - Nam, nếu được thông qua, cũng đòi hỏi một lượng vốn đầu tư khổng lồ. Theo thông tin từ Bộ trưởng Bộ tài chính Vũ Văn Ninh, giai đoạn 2003- 2006, bình quân phát hành trái phiếu Chính phủ chỉ 7.630 tỷ đồng/năm. Đến giai đoạn 2007- 2010 đã tăng lên 40.770 tỷ đồng/năm và riêng năm nay vẫn phát hành 56.700 tỷ đồng/năm.
Trong bối cảnh đó, thu- chi ngân sách đang gặp nhiều vấn đề. Báo cáo thẩm tra của UB Tài chính - Ngân sách trình Quốc hội hôm qua, 28.5, nhận định: bội chi ngân sách đã tăng cao đột biến, không còn giữ được mức dưới 5%, mà đã tăng lên 6,9% GDP năm 2009 và 6,2% GDP năm 2010. Cùng với các khoản chi từ nguồn trái phiếu Chính phủ tăng lớn, nên bội chi ngân sách thực tế sẽ cao hơn số đã báo cáo Quốc hội. Cho rằng mức dư nợ Chính phủ và nợ quốc gia tăng sát mức an toàn cho phép, UB Tài chính và Ngân sách cũng cảnh báo an ninh tài chính quốc gia đứng trước khó khăn cho các năm sau, do vay nợ trong nước và nước ngoài gặp khó khăn và phải vay với lãi suất cao. Yếu tố bền vững trong nguồn thu ngân sách cũng chưa được như kỳ vọng. Trong khi đó, việc chi trả nợ ngày càng tăng: dự toán năm 2008 là hơn 51.000 tỷ đồng; năm 2009 Chính phủ đã chi trả 64.800 tỷ đồng. Bốn tháng đầu năm nay chi trả nợ và viện trợ đạt 24.570 tỷ đồng bằng 35% dự toán, và cả năm, mức chi trả nợ dự kiến chiếm hơn chục phần trăm tổng chi ngân sách.
Bên cạnh đó, vẫn theo đánh giá của UB Tài chính - Ngân sách, việc thực hiện nhiều chương trình mục tiêu, dự án đầu tư xây dựng cơ bản đã nổi lên nhiều vấn đề: nhu cầu vốn đầu tư tăng cao; tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, chuyển nguồn lớn vẫn chậm được khắc phục, dẫn tới hiệu quả nhiều chương trình, dự án không cao. Hệ số ICOR tăng lên nhanh chóng (hệ số ICOR năm 2007 là 5,2; năm 2008 là 6,6 và năm 2009 đã tăng lên trên 8).
Tất cả những điều trên đây đòi hỏi Chính phủ phải xem xét thật kỹ việc đi vay và sử dụng đồng vốn vay. Hàm ý của các ĐBQH khi đề cập đến vấn đề nợ công có lẽ cũng nằm ở đó. Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh nói trên nghị trường rằng, “giống như trong gia đình có tiền để làm nhà thì không nói, nhưng thiếu cũng phải đi vay về, rồi làm ăn trả nợ”. Điều này đúng. Nhưng vay mượn cũng cần liệu cơm gắp mắm và tùy theo năng lực sử dụng đồng vốn cũng như khả năng trả nợ chứ không phải theo nhu cầu. Và UB Tài chính - Ngân sách hoàn toàn có cơ sở khi kiến nghị Chính phủ thận trọng vớái những dự án đâu tư đòi hỏi nguồìn vốn ngân sách lớn nhằm tránh những rủi ro của việåc không bố trí được nguồn vốn, nhất là trong điều kiện huy động vốn trên các thị trường tài chính trong nước và quốc tế chi phí rất cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro, cũng như tác động trái chiều đến nền kinh tế.